Tin tức mới nhất

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA NĂM 2019
Ngày đăng 10/01/2020 | 09:17  | Lượt xem: 21

Ngày 14/6/2019, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia số 44/2019/QH14. Dưới đây là những nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Ngày 25/10/2017, Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh việc "Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá", "Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hóa có hại cho sức khỏe như đồ uống có cồn, có ga, thuốc lá để hạn chế tiêu dùng", "Phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe; hoàn thành trước thời hạn một số mục tiêu"; đồng thời, Nghị quyết giao Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

2. Rượu, bia ngày càng gia tăng ảnh hưởng bất lợi đối với sức khỏe, xã hội, kinh tế và cần có cơ chế quản lý khác với các hàng hóa thông thường theo hướng phòng ngừa, hạn chế tác hại ngay từ khi con người tiếp cận sản phẩm này.

- Đối với sức khỏe, bằng chứng khoa học quốc tế cho thấy rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp của 30 bệnh, chấn thương và là nguyên nhân gián tiếp của ít nhất 200 loại bệnh tật nằm trong danh mục phân loại bệnh tật quốc tế ICD10 (một số tên bệnh đã có từ rượu như: loạn thần từ rượu, xơ gan do rượu, hội chứng rượu bào thai...), là một trong bốn yếu tố nguy cơ chính đối với các bệnh không lây nhiễm. Theo Tổ chức Y tế thế giới, sử dụng rượu, bia gây tổn thương đến nhiều cơ quan, chức năng của cơ thể như: gây ung thư (gan, khoang miệng, thanh quản, thực quản, tụy, thận, đại - trực tràng, vú); gây rối loạn tâm thần kinh (loạn thần, trầm cảm, rối loạn lo âu, giảm khả năng tư duy); bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ); bệnh tiêu hóa (tổn thương gan, xơ gan, viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính); ảnh hưởng tới chất lượng giống nòi và phát triển bào thai; suy giảm miễn dịch... Tại Việt Nam, rượu, bia xếp thứ 05 trong 15 yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe hàng đầu. Bên cạnh đó, tổn hại sức khỏe do ngộc độc rượu, bia, trong đó có rượu, bia không đảm bảo chất lượng, không kiểm soát được nguồn gốc, rượu pha từ cồn công nghiệp cũng là vấn đề đáng lưu tâm.

- Đối với gia đình và xã hội, hệ lụy do sử dụng rượu, bia gây ra nghiêm trọng hơn nhiều so với hút thuốc, bao gồm: tai nạn giao thông, chấn thương, bạo lực gia đình, mất an ninh, trật tự, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Tại Việt Nam, rượu, bia là một trong ba nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông ở nam giới độ tuổi 15 - 49. Nghiên cứu của WHO phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia trên 14.990 nạn nhân tai nạn giao thông nhập viện tại 06 địa phương (các thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; các tỉnh: Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Bình Dương) từ tháng 7/2009 đến tháng 10/2010, thì có 28% người đi xe máy có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép, 63,4% người lái ô tô có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép. Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân năm 2015, trung bình mỗi năm Việt Nam có 15.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia. Hàng năm có khoảng 800 ca tử vong do bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu, bia; gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội có liên quan đến sử dụng rượu, bia; vi phạm pháp luật hình sự liên quan đến rượu, bia trong độ tuổi trước 30 chiếm tới 70%. Nhiều hộ gia đình Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề liên quan đến rượu, bia: 11% hộ gia đình xảy ra bạo lực gia đình mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em. Tỷ lệ trẻ em Việt Nam chịu tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người khác thuộc nhóm 2 nước cao nhất.

Hiện nay, tình trạng người dân ở các khu vực kém phát triển hơn uống rượu, bia ở mức có hại là yếu tố góp phần gia tăng khoảng cách giàu, nghèo. Tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người lớn đối với trẻ em được ghi nhận phổ biến hơn đối với các hộ gia đình ở nông thôn, thu nhập thấp và có nhiều người sử dụng rượu, bia. Phụ nữ và trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số đang là đối tượng gánh chịu tác hại từ việc sử rượu, bia, trong đó, người dân tộc thiểu số chịu hậu quả cao gấp 3 đến 4 lần so với người Kinh.

- Đối với kinh tế, sử dụng rượu, bia có thể gây ra gánh nặng kinh tế đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội do liên quan đến các phí tổn về chăm sóc sức khỏe, giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác. Chi tiêu cho rượu, bia chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi tiêu của hộ nghèo và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tăng thêm. Theo thống kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu, bia chiếm từ 1,3% - 3,3% của mỗi quốc gia, trong đó, chi phí gián tiếp thường nhiều hơn gấp hai lần chi phí trực tiếp. Tại Việt Nam, phí tổn kinh tế do rượu, bia ước tính khoảng 65.000 tỷ đồng (1,3% GDP), gấp trên 1.5 lần mức đóng góp cho ngân sách nhà nước của ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát. Chi phí của người dân cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia của Việt Nam năm 2017 là gần 4 tỷ USD.

3. Các kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng nhanh, thể hiện qua 3 tiêu chí: (1) mức tiêu thụ lít cồn nguyên chất bình quân đầu người và ở nam giới; (2) tỷ lệ người dân có uống rượu, bia; (3) tỷ lệ người uống rượu, bia ở mức nguy hại cần được kiểm soát để giảm mức tiêu thụ.

4. Về thực trạng sản xuất, kinh doanh và quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia, tại Việt Nam, rượu, bia là hai sản phẩm đồ uống có cồn phổ biến, chiếm khoảng 99,7% thị phần, 0,3% còn lại là đồ uống có cồn khác được sản xuất, nhập khẩu hoặc nước giải khát pha chế thêm rượu, bia. Tuy nhiên, vẫn còn lượng rượu sản xuất thủ công chưa quản lý được (chưa được cấp phép, chưa đăng ký với chính quyền); việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyt trong một số sản phẩm rượu thủ công còn khó khăn; tình hình rượu giả, rượu nhập lậu vẫn còn tồn tại, kiểm soát khó khăn; việc cấp phép, quản lý bán lẻ rượu trực tiếp đến người tiêu dùng tại chỗ theo quy định của Nghị định số 105/2017/NĐ-CP ngày 14/9/2017 của Chính phủ về kinh doanh rượu còn nhiều khó khăn do quy định cơ sở bán rượu tiêu dùng tại chỗ phải được cấp phép không khả thi trên thực tế. Hoạt động quảng cáo, khuyến mại, tài trợ bia vẫn chưa được kiểm soát bằng các quy định pháp luật; quảng cáo, bán rượu, bia trên mạng xã hội nhiều, chưa có biện pháp hạn chế đối với trẻ em, thanh thiếu niên; quảng cáo bia diễn ra phổ biến, tần suất cao, quảng cáo nhiều trong các giờ vàng, buổi tối trên sóng truyền hình, phát thanh. Thực trạng này dẫn đến việc quảng bá, thúc đẩy sử dụng rượu, bia và làm gia tăng tỷ lệ thanh, thiếu niên sử dụng rượu, bia.

5. Pháp luật hiện hành chủ yếu quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh rượu, bia, có rất ít quy định về phòng, chống tác hại của rượu, bia, các văn bản pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia còn tản mạn, hiệu lực pháp lý thấp, chủ yếu là nghị định, thông tư, chỉ thị, còn có sự chồng chéo, chưa đồng bộ; chưa có luật điều chỉnh trực tiếp về phòng, chống tác hại của rượu, bia. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 về chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn nhưng cần được thể chế thành luật để có giá trị bắt buộc áp dụng.

6. Kinh nghiệm thế giới và khu vực cho thấy phòng, chống tác hại của rượu, bia là rất cần thiết và đã được các nước quan tâm ban hành chính sách, pháp luật từ nhiều thập kỷ trước.

Như vậy, việc sử dụng rượu, bia nhiều và thường xuyên tại Việt Nam đang ở mức báo động, tác hại do sử dụng rượu, bia gây ra đối với sức khỏe và xã hội, kinh tế đang ngày càng trầm trọng, gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng tiêu thụ rượu, bia. Đó thực sự là trở ngại lớn đối với việc thực hiện mục tiêu và chỉ tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, gánh nặng này ngày càng gia tăng nếu thiếu đáp ứng kịp thời về chính sách, pháp luật, do đó, việc ban hành Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 là cần thiết.

II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục đích

Thể chế các chính sách nhằm giảm tác động tiêu cực đến sức khỏe, xã hội, kinh tế do sử dụng rượu, bia gây ra thông qua các biện pháp về giảm mức tiêu thụ rượu, bia; quản lý chặt chẽ việc cung cấp, hạn chế tính sẵn có của rượu, bia; giảm tác hại và bảo đảm nguồn lực để phòng, chống tác hại của rượu, bia, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân, hoàn thiện thể chế về phòng, chống các bệnh không lây nhiễm.

2. Quan điểm chỉ đạo

Thứ nhất, ưu tiên bảo vệ sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người dân, gia đình và xã hội, là nguồn lực quý giá trong phát triển bền vững đất nước; giảm gánh nặng bệnh tật, tử vong do sử dụng rượu, bia gây ra.

Thứ hai, phòng ngừa và giảm bớt các hậu quả về xã hội (tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, tội phạm, thương tích, an ninh, trật tự, bất bình đẳng giới, đói nghèo) và gánh nặng kinh tế để khắc phục hậu quả do sử dụng rượu, bia gây ra.

Thứ ba, thể chế quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; góp phần quan trọng để đạt các mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam đã cam kết (giảm 10% tỷ lệ sử dụng rượu, bia ở mức nguy hại vào năm 2030).

Thứ tư, khắc phục những hạn chế, bất cập, khoảng trống của pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia hiện nay. Tăng tính khả thi, đồng bộ của các quy định pháp luật về sản xuất, kinh doanh rượu, bia, nhất là quản lý sản xuất rượu thủ công, cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm hài hòa với các lợi ích sức khỏe cộng đồng.

Thứ năm, huy động nguồn lực tài chính và sự tham gia tích cực của toàn xã hội, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia để bảo đảm thực hiện luật hiệu quả.

Thứ sáu, bảo đảm phù hợp, hài hòa với pháp luật quốc tế trong xu thế hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu.

III. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

A. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm có 07 chương, 36 điều, cụ thể như sau:

- Chương I. Những quy định chung

 Gồm 05 điều (từ Điều 1 đến Điều 5), quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; chính sách của Nhà nước trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

- Chương II. Biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia

Gồm 09 điều (từ Điều 6 đến Điều 14), quy định về mục đích, yêu cầu trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; địa điểm không uống rượu, bia; quản lý việc khuyến mại rượu, bia có độ cồn dưới 15 độ; quản lý việc quảng cáo rượu, bia có độ cồn dưới 5,5 độ; quản lý việc quảng cáo rượu có độ cồn từ 5,5 độ đến dưới 15 độ và bia có độ cồn từ 5,5 độ trở lên; quản lý việc tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh rượu, bia.

 - Chương III. Biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia

Gồm 06 điều (từ Điều 15 đến Điều 20), quy định về quản lý kinh doanh rượu; điều kiện bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử; biện pháp quản lý đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh; bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đối với rượu, bia; địa điểm không bán rượu, bia; phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

- Chương IV. Biện pháp giảm tác hại của rượu, bia

Gồm 05 điều (từ Điều 21 đến Điều 25), quy định về phòng ngừa tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng rượu, bia; phòng ngừa, can thiệp và giảm tác hại của việc uống rượu, bia đối với sức khỏe; tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia; biện pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia tại cộng đồng; chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để phòng ngừa, giảm tác hại của rượu, bia.

- Chương V. Điều kiện bảo đảm cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia

Gồm 03 điều (từ Điều 26 đến Điều 28), quy định về kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia; xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia.

- Chương VI. Quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia

Gồm 06 điều (từ Điều 29 đến Điều 34), quy định về nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội; trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

- Chương VII. Điều khoản thi hành

Gồm 02 điều (Điều 35 và Điều 36), quy định về sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác; hiệu lực thi hành.

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

1. Tên gọi của Luật

Tên gọi phòng, chống tác hại của rượu, bia đã khái quát nội dung của Luật một cách ngắn gọn, dể hiểu, dễ tuyên truyền, phổ biến; thể hiện rõ mục tiêu, quan điểm của Luật là điều chỉnh, phòng ngừa và tăng cường nhận thức cho người dân ngay từ khi tiếp cận rượu, bia đã phải tự ý thức được tác hại do sử dụng rượu, bia có thể gây ra đối với sức khỏe, xã hội, kinh tế để điều chỉnh hành vi cho phù hợp. Tên gọi của Luật kết hợp giữa “phòng” và “chống” tác hại của rượu, bia, trong đó “phòng” là chính, do vậy, bên cạnh một số quy định mang tính “chống” tác hại của rượu, bia, phần lớn các quy định của Luật nghiêng về các giải pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia.

2. Những quy định chung (Chương I)

2.1. Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định các biện pháp, cách thức cụ thể để phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe và các hệ lụy xã hội khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng rượu, bia; tập trung quy định các biện pháp giảm cầu, giảm cung, giảm tác hại của rượu, bia; chú trọng biện pháp quản lý toàn diện đối với sản xuất rượu thủ công theo hướng: bên cạnh các quy định chung cho cả sản xuất rượu thủ công và sản xuất rượu công nghiệp, còn có thêm các quy định đặc thù cho sản xuất rượu thủ công. Ngoài ra, còn có một số quy định về khuyến mại, quảng cáo, sản xuất, mua bán rượu, bia trong Luật, tách riêng rượu và bia để quản lý trên cơ sở nồng độ cồn trong sản phm.

Cụ thể, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia; biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia; biện pháp giảm tác hại của rượu, bia; điều kiện bảo đảm cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia; quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

2.2. Giải thích từ ngữ (Điều 2)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 giải thích một số từ ngữ sử dụng trong Luật như: rượu; bia; cồn thực phẩm; độ cồn; tác hại của rượu, bia; nghiện rượu, bia; sản xuất rượu thủ công; sản xuất rượu công nghiệp. Cụ thể như sau:

- Rượu là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ một hoặc hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm tinh bột của ngũ cốc, dịch đường của cây, hoa, củ, quả hoặc là đồ uống được pha chế từ cồn thực phẩm.

- Bia là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm mạch nha (malt), đại mạch, nấm men bia, hoa bia (hoa houblon), nước.

- Cồn thực phẩm là hp chất hữu cơ có công thức phân tử là C2H5OH và có tên khoa học là ethanol đã được loại bỏ tạp chất, đạt yêu cầu dùng trong thực phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, có khả năng gây nghiện và gây ngộ độc cấp tính.

- Độ cồn là số đo chhàm lượng cồn thực phẩm có trong rượu, bia tính theo phần trăm thể tích. Độ cồn được tính bằng số mililít ethanol nguyên chất trong 100 ml dung dịch ở 20 °C.

- Tác hại của rượu, bia là ảnh hưởng, tác động có hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, gia đình, cộng đồng, an toàn giao thông, trật tự, an toàn xã hội, kinh tế và các vấn đề xã hội khác.

- Nghiện rượu, bia là tình trạng lệ thuộc vào rượu, bia với biểu hiện đặc trưng như thường xuyên thèm uống, lượng uống có thể tăng theo thời gian, không thể tự kiểm soát lượng uống hay ngừng uống.

- Sản xuất rượu thủ công là hoạt động sản xuất rượu bằng dụng cụ truyền thống, không sử dụng máy móc, thiết bị công nghiệp.

- Sản xuất rượu công nghiệp là hoạt động sản xuất rượu bằng máy móc, thiết bị công nghiệp.

2.3. Chính sách của Nhà nước trong phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 3)

Các chính sách của Nhà nước trong phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Ưu tiên hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông; giảm tính sẵn có, dễ tiếp cận của rượu, bia; giảm tác hại của rượu, bia; tăng cường quản lý sản xuất rượu thủ công; thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia đối với trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai; (3) Bảo đảm nguồn lực cho công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia; chú trọng các hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia của y tế cơ sở và ở cộng đồng; huy động xã hội hóa các hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia; (4) Khuyến khích nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới nhằm giảm tác hại của rượu, bia; (5) Khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

2.4. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 4)

Cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ trong phòng, chống tác hại của rượu, bia như sau: (1) Được sống trong môi trường không chịu ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia; (2) Được cung cấp thông tin phù hợp, chính xác, khách quan, khoa học, đầy đủ về rượu, bia, nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng và tác hại của rượu, bia; (3) Phản ánh, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; tố cáo việc cơ quan, người có thẩm quyền không xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (4) Tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia.

2.5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 5)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia nhằm hạn chế về đối tượng, độ tuổi, thời gian uống rượu, bia; hạn chế mức độ tiếp cận của rượu, bia; hạn chế tình trạng rượu, bia giả, kém chất lượng, nhập lậu; hướng đến làm giảm tỷ lệ và mức tiêu thụ rượu, bia trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên, trẻ em, người chưa thành niên, người tham gia giao thông; góp phần cải thiện và bảo đảm sức khỏe cộng đồng, giúp Nhà nước tiết kiệm một phần chi phí dự phòng dùng để chăm sóc, khắc phục sức khỏe cho nhân dân do sử dụng rượu, bia, giảm chi phí phòng ngừa và giải quyết hậu quả của tai nạn giao thông, tăng năng suất lao động, tạo môi trường làm việc văn minh, hiệu quả, kỷ cương, kỷ luật, bảo đảm an toàn lao động.

Cụ thể, các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu, bia; (2) Người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia; (3) Bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi; (4) Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia; (5) Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập; (6) Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn; (7) Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên; (8) Cung cấp thông tin không chính xác, sai sự thật về ảnh hưởng của rượu, bia đối với sức khỏe; (9) Khuyến mại trong hoạt động kinh doanh rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên; sử dụng rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức; (10) Sử dụng nguyên liệu, phụ gia, chất hỗ trợ chế biến không được phép dùng trong thực phẩm; nguyên liệu, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm không bảo đảm chất lượng và không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất, pha chế rượu, bia; (11) Kinh doanh rượu không có giấy phép hoặc không đăng ký; bán rượu, bia bằng máy bán hàng tự động; (12) Kinh doanh, tàng trữ, vận chuyển rượu, bia giả, nhập lậu, không bảo đảm chất lượng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhập lậu rượu, bia; (13) Các hành vi bị nghiêm cấm khác liên quan đến rượu, bia do luật định.

3. Biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia (Chương II)

Các biện pháp giảm mức tiêu thụ rượu, bia được quy định trong Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm: (1) Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Địa điểm không được uống rượu, bia; (3) Quản lý việc khuyến mại rượu, bia; (4) Quản lý việc quảng cáo rượu, bia; (4) Quản lý việc tài trợ kinh doanh rượu, bia. Trong đó, Luật quy định về quản lý việc khuyến mại, quảng cáo rượu, bia theo hướng đối với rượu, bia có độ cồn càng cao thì quản lý việc khuyến mại càng chặtrượu, bia chứa cồn là chất gây nghiện, có ảnh hưởng đến sức khỏe con người ở các mức độ khác nhau tuỳ theo độ cồn được đưa vào cơ thể. Cụ thể như sau:

3.1. Thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia

3.1.1. Mục đích, yêu cầu trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 6)

Thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, định hướng hành vi, thay đổi thói quen có hại để phòng, chống tác hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, gia đình, cộng đồng, an toàn giao thông, trật tự, an toàn xã hội, kinh tế và các vấn đề xã hội khác.

Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: (1) Chính xác, khách quan và khoa học; (2) Thường xuyên; phù hợp, dễ tiếp cận và hiệu quả đối với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính; phù hợp với truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn giáo và phong tục tập quán; chú trọng đối với học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai và cá nhân, tổ chức, hộ gia đình sản xuất rượu thủ công.

3.1.2. Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 7)

Nội dung thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; các chế tài xử phạt và vận động cá nhân, tổ chức tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Quyền, nghĩa vụ của cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cộng đồng trong phòng, chống tác hại của rượu, bia; (3) Tác hại của rượu, bia; tác hại của rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; các mức độ nguy cơ khi uống rượu, bia; các biện pháp giảm tác hại của rượu, bia; (4) Bệnh, tình trạng sức khỏe, đối tượng không nên uống rượu, bia; độ tuổi không được uống rượu, bia; (5) Kỹ năng từ chối uống rượu, bia; kỹ năng nhận biết và ứng xử, xử trí khi gặp người say rượu, bia, người nghiện rượu, bia; (6) Vận động hạn chế uống rượu, bia và không điều khiển phương tiện giao thông, vận hành máy móc sau khi uống rượu, bia; (7) Hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân sản xuất rượu thủ công bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; (8) Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân sản xuất rượu thủ công làm thủ tục cấp giấy phép sản xuất, đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã việc bán rượu cho cơ sở có giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại, kê khai việc sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh.

3.1.3. Hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 8)

Hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Thực hiện trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp, phổ biến tài liệu; (2) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, mạng Internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; (3) Thi tuyên truyền, tìm hiểu; (4) Chiến dịch truyền thông; (5) Lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao; trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, cộng đồng và các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở.

3.1.4. Trách nhiệm trong thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 9)

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông quy định tại các điều 6, 7 và 8 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Luật giao Chính phủ quy định trách nhiệm thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của rượu, bia và việc hạn chế sử dụng hình ảnh diễn viên uống rượu, bia trong tác phẩm điện ảnh, sân khấu, truyền hình.

3.2. Địa điểm không uống rượu, bia (Điều 10)

Địa điểm không uống rượu, bia là các địa điểm mà việc sử dụng rượu, bia có thể tác động đến cộng đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến các nhóm đối tượng cần được bảo vệ như: người dưới 18 tuổi, người bệnh, học sinh, sinh viên và gây ảnh hưởng đến chất lượng lao động, nghiêm trọng hơn đó là ảnh hưởng đến thế hệ tương lai của đất nước. Cụ thể, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định các địa điểm không uống rượu, bia, gồm: (1) Cơ sở y tế; (2) Cơ sở giáo dục trong thời gian giảng dạy, học tập, làm việc; (3) Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; (4) Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; (5) Cơ sở bảo trợ xã hội; (6) Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian làm việc, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia; (7) Các địa điểm công cộng theo quy định của Chính phủ.

3.3. Quản lý việc khuyến mại rượu, bia (Điều 11)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 cấm khuyến mại trong hoạt động kinh doanh rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên; sử dụng rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức (khoản 9 Điều 5); còn đối với rượu, bia có độ cồn dưới 15 độ thì tổ chức, cá nhân thực hiện khuyến mại phải tuân thủ các quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật về khuyến mại.

3.4. Quản lý việc quảng cáo rượu, bia

Hoạt động quảng cáo rượu, bia chỉ hướng tới những điểm nổi trội của sản phẩm, có thể khiến người tiêu dùng chưa có cách nhìn toàn diện về rượu, bia, thậm chí ảnh hưởng đến quyền được tiếp nhận thông tin khách quan về rượu, bia. Bên cạnh đó, tuy việc kiểm soát quảng cáo rượu, bia có thể gây tổn thất về nguồn thu từ quảng cáo nhưng xét về khía cạnh sức khỏe, đây là biện pháp được các nghiên cứu chứng minh là hiệu quả, ít tốn kém nhằm giảm tiêu thụ, giảm tác hại của rượu, bia và được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên áp dụng như là biện pháp ưu tiên.

Theo đó, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 cấm quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên (khoản 7 Điều 5) và quy định cụ thể về quản lý đối với rượu có độ cồn dưới 5,5 độ, rượu có độ cồn từ 5,5 độ đến dưới 15 độ và bia có độ cồn từ 5,5 độ trở lên. Cụ thể như sau:

3.4.1. Quản lý việc quảng cáo rượu, bia có độ cồn dưới 5,5 độ (Điều 12)

Tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo rượu, bia phải tuân thủ các quy định của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và quy định khác của pháp luật về quảng cáo. Quảng cáo không thể hiện các nội dung sau đây: (1) Có thông tin, hình ảnh nhằm khuyến khích uống rượu, bia; thông tin rượu, bia có tác dụng tạo sự trưởng thành, thành đạt, thân thiện, hấp dẫn về giới tính; hướng đến trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai; (2) Sử dụng vật dụng, hình ảnh, biểu tượng, âm nhạc, nhân vật trong phim, nhãn hiệu sản phẩm dành cho trẻ em, học sinh, sinh viên; sử dụng người chưa đủ 18 tuổi hoặc hình ảnh của người chưa đủ 18 tuổi trong quảng cáo rượu, bia.

Không thực hiện quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo trong trường hợp sau đây: (1) Sự kiện, phương tiện quảng cáo, sản phẩm dành cho người chưa đủ 18 tuổi, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai; (2) Phương tiện giao thông; (3) Báo nói, báo hình ngay trước, trong và ngay sau chương trình dành cho trẻ em; trong thời gian từ 18 giờ đến 21 giờ hằng ngày, trừ trường hợp quảng cáo có sẵn trong các chương trình thể thao mua bản quyền tiếp sóng trực tiếp từ nước ngoài và trường hợp khác theo quy định của Chính phủ; (4) Phương tiện quảng cáo ngoài trời vi phạm quy định về kích thước, khoảng cách đặt phương tiện quảng cáo tính từ khuôn viên của cơ sở giáo dục, cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi.

Quảng cáo phải có cảnh báo để phòng, chống tác hại của rượu, bia. Quảng cáo trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, phương tiện điện tử, thiết bị đầu cuối và thiết bị viễn thông khác phải có hệ thống công nghệ chặn lọc, phần mềm kiểm soát tuổi của người truy cập để ngăn ngừa người chưa đủ 18 tuổi tiếp cận, truy cập, tìm kiếm thông tin về rượu, bia.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết điểm d khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 12 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019.

3.4.2. Quản lý việc quảng cáo rượu có độ cồn từ 5,5 độ đến dưới 15 độ và bia có độ cồn từ 5,5 độ trở lên (Điều 13)

Tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo rượu có độ cồn từ 5,5 độ đến dưới 15 độ và bia có độ cồn từ 5,5 độ trở lên phải tuân thủ quy định tại Điều 12 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và không quảng cáo trong trường hợp sau đây: (1) Trong các chương trình, hoạt động văn hóa, sân khấu, điện ảnh, thể thao; (2) Trên các phương tiện quảng cáo ngoài trời, trừ biển hiệu của cơ sở kinh doanh rượu, bia.

3.5. Quản lý việc tài trợ của tổ chức, cá nhân kinh doanh rượu, bia (Điều 14)

Tài trợ là hình thức hỗ trợ bằng tiền mặt, sản phẩm hay một dịch vụ nào đó của doanh nghiệp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời là một hình thức quảng cáo, tiếp thị của doanh nghiệp. Rượu, bia là mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng, nên cần có quy định để quản lý hoạt động tài trợ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh rượu, bia. Do đó, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh rượu, bia thực hiện tài trợ phải tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan đến việc tài trợ và không được tài trợ bằng sản phẩm rượu, bia.

4. Biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia (Chương III)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 phân biệt rượu thành 02 loại theo hoạt động sản xuất rượu (rượu công nghiệp, rượu thủ công) để có biện pháp quản lý việc cung cấp rượu cho phù hợp. Đối với rượu thủ công, Luật quy định về các biện pháp quản lý rượu thủ công khác nhau tùy theo mục đích sản xuất rượu thủ công (để kinh doanh, để bán cho cơ sở có giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại, không kinh doanh). Trong đó, Luật tăng cường quản lý việc cung cấp, kinh doanh rượu thủ công, bao gồm cả rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu thụ, giúp cơ quan Nhà nước nắm được thông tin chính xác, đầy đủ về tình hình sản xuất, kinh doanh rượu thủ công, làm giảm tình trạng các cơ sở sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh nhưng lại đưa ra bán trên thị trường dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, thực hiện thu đủ các loại thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, quản lý được chất lượng rượu thủ công, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Các biện pháp quản lý việc cung cấp rượu, bia được quy định trong Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm: (1) Quản lý kinh doanh rượu; (2) Điều kiện bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử; (3) Biện pháp quản lý đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh; (4) Bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đối với rượu, bia; (5) Địa điểm không được bán rượu, bia; (6) Phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Cụ thể như sau:

4.1. Quản lý kinh doanh rượu (Điều 15)

Điều kiện để được cấp phép sản xuất rượu công nghiệp có độ cồn từ 5,5 độ trở lên gồm: (1) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; (2) Có dây chuyền máy móc, thiết bị công nghiệp, quy trình công nghệ sản xuất rượu đáp ứng quy mô dự kiến sản xuất; (3) Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; (4) Có nhân viên kỹ thuật có trình độ, chuyên môn phù hợp với ngành, nghề sản xuất rượu.

Điều kiện để được cấp phép sản xuất rượu thủ công có độ cồn từ 5,5 độ trở lên nhằm mục đích kinh doanh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 15 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm: (1) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật; (2) Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy ánh của pháp luật.

Điều kiện đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất rượu thủ công có độ cồn từ 5,5 độ trở lên bán cho cơ sở có giấy phép sản xuất rượu để chế biến lại gồm: (1) Có hợp đồng mua bán với cơ sở có giấy phép sản xuất rượu và có đăng ký với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở sản xuất; (2) Bảo đảm điều kiện về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.

Điều kiện cấp phép để được mua bán rượu có độ cồn từ 5,5 độ trở lên gồm: (1) Đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; (2) Đáp ứng điều kiện theo từng loại hình mua bán rượu.

Luật giao Chính phủ quy định chi tiết Điều 15 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và quy định việc quản lý kinh doanh rượu có độ cồn dưới 5,5 độ.

4.2. Điều kiện bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử (Điều 16)

Để phù hợp với hình thức thương mại hiện đại, phổ biến trong tương lai, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 cho phép bán rượu, bia theo hình thức thương mại điện tử nhưng phải đáp ứng những điều kiện sau: (1) Đáp ứng quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 15 và Điều 18 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019; (2) Đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử; (3) Thực hiện biện pháp theo quy định của Chính phủ để ngăn ngừa người chưa đủ 18 tuổi tiếp cận, truy cập, tìm kiếm thông tin và mua rượu, bia; (4) Áp dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

4.3. Biện pháp quản lý đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh (Điều 17)

Biện pháp quản lý đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh gồm: (1) Hộ gia đình, cá nhân sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh phải có bản kê khai gửi Ủy ban nhân dân cấp xã về lượng rượu được sản xuất, phạm vi sử dụng, cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm và không bán rượu ra thị trường theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định. Việc kê khai không phải nộp phí, lệ phí; (2) Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; báo cáo sản lượng và tình hình bảo đảm an toàn thực phẩm đối với sản xuất rượu thủ công không nhằm mục đích kinh doanh trên địa bàn.

4.4. Bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm đối với rượu, bia (Điều 18)

Rượu, bia được kinh doanh, lưu hành tại Việt Nam phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.

4.5. Địa điểm không bán rượu, bia (Điều 19)

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 đã quy định về các đối tượng, trường hợp bị cấm uống rượu, bia tại Điều 5; quy định về địa điểm không uống rượu, bia tại Điều 10. Tiếp theo đó, Luật quy định về các địa điểm không bán rượu, bia, gồm: (1) Cơ sở y tế; (2) Cơ sở giáo dục; (3) Cơ sở, khu vực chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành cho người chưa đủ 18 tuổi; (4) Cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở giam giữ phạm nhân và cơ sở giam giữ khác; (5) Cơ sở bảo trợ xã hội; (6) Nơi làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, trừ địa điểm được phép kinh doanh rượu, bia.

4.6. Phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ (Điều 20)

Các biện pháp phòng ngừa và xử lý rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ gồm: (1) Rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ đều bị tịch thu, xử lý theo quy định của pháp luật; (2) Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tham gia với cơ quan có thẩm quyền trong phòng, chống rượu, bia giả, không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và rượu, bia nhập lậu, không rõ nguồn gốc, xuất xứ; (3) Bộ Công Thương, Bộ Y tế, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hướng dẫn việc bổ sung chất chỉ thị màu vào các sản phẩm cồn không dùng trong thực phẩm để phân biệt với cồn thực phẩm và phòng ngừa pha chế rượu từ sản phẩm cồn không được phép dùng trong thực phẩm.

5. Biện pháp giảm tác hại của rượu, bia

Các biện pháp giảm tác hại của rượu, bia được quy định trong Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 gồm: (1) Phòng ngừa tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng rượu, bia; (2) Phòng ngừa, can thiệp và giảm tác hại của việc uống rượu, bia đối với sức khỏe; (3) Tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (4) Biện pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia tại cộng đồng; (5) Chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để phòng ngừa, giảm tác hại của rượu, bia. Cụ thể như sau:

5.1. Phòng ngừa tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng rượu, bia (Điều 21)

Nhằm giảm tỷ lệ tai nạn giao thông liên quan đến rượu, bia, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định hành vi "Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn" là bị nghiêm cấm (khoản 6 Điều 5); đồng thời, quy định các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông liên quan đến sử dụng rượu, bia như sau: (1) Người điều khiển phương tiện giao thông không uống rượu, bia trước và trong khi tham gia giao thông; (2) Người đứng đầu cơ sở kinh doanh vận tải, chủ phương tiện giao thông vận tải có trách nhiệm chủ động thực hiện biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn người điều khiển phương tiện vận tải uống rượu, bia ngay trước và trong khi tham gia giao thông; (3) Cơ quan, người có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm toa nồng độ cồn trong máu, hơi thở của người điều khiển phương tiện giao thông đang tham gia giao thông hoặc gây ra tai nạn giao thông; (4) Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm xây dựng nội dung và tổ chức việc đào tạo về phòng, chống tác hại của rượu, bia trong chương trình đào tạo cấp bằng, chứng chỉ, giấy phép điều khiển phương tiện giao thông thuộc phạm vi quản lý.

5.2. Phòng ngừa, can thiệp và giảm tác hại của việc uống rượu, bia đối với sức khỏe (Điều 22)

Các biện pháp phòng ngừa, can thiệp và giảm tác hại của việc uống rượu, bia đối với sức khỏe gồm: (1) Tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia cho người đến khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế; (2) Sàng lọc, phát hiện sớm yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe của người uống rượu, bia; người mắc bệnh, rối loạn chức năng do uống rượu, bia; người nghiện rượu, bia; (3) Can thiệp giảm tác hại cho người có yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe, phụ nữ mang thai có hội chứng hoặc nguy cơ ngộ độc rượu ở thai nhi; phòng, chống nghiện và tái nghiện rượu, bia; (4) Chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cho người mắc bệnh, rối loạn chức năng có liên quan đến uống rượu, bia.

Cơ sở y tế thực hiện các biện pháp nêu trên theo hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật của Bộ Y tế.

5.3. Tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 23)

Tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm các nội dung sau đây: (1) Thông tin, kiến thức, pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Biện pháp giảm tác hại của rượu, bia; kỹ năng từ chối uống rượu, bia; kỹ năng nhận biết và ứng xử, xử trí khi gặp người say rượu, bia, người nghiện rượu, bia.

Việc tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia tập trung vào các đối tượng sau đây: (1) Người thường xuyên uống rượu, bia; (2) Người nghiện rượu, bia; (3) Thành viên gia đình có người thường xuyên uống rượu, bia, người nghiện rượu, bia; (4) Trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên, phụ nữ mang thai; (5) Người bị ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia.

Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia trên địa bàn. Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện tư vấn về phòng, chống tác hại của rượu, bia cho thành viên trong cộng đồng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư vấn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.

5.4. Biện pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia tại cộng đồng (Điều 24)

Các biện pháp phòng ngừa tác hại của rượu, bia tại cộng đồng gồm: (1) Tuyên truyền, vận động các gia đình, thành viên thuộc tổ chức, cộng đồng tham gia tuyên truyền và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Lồng ghép hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia vào các phong trào, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, xây dựng đời sống văn hóa và hoạt động khác tại cộng đồng; (3) Vận động, khuyến khích quy định trong hương ước, quy ước việc hạn chế hoặc không uống rượu, bia tại đám cưới, đám tang, lễ hội trên địa bàn dân cư; (4) Vận động cá nhân, tổ chức không sử dụng sản phẩm rượu, bia không rõ nguồn gốc, xuất xứ, chưa được kiểm nghiệm an toàn thực phẩm; (5) Phát hiện, phản ánh người say rượu, bia, người nghiện rượu, bia để cảnh báo, phòng ngừa, xử lý hành vi gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.

5.5. Chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để phòng ngừa, giảm tác hại của rượu, bia (Điều 25)

Các biện pháp chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để phòng ngừa, giảm tác hại của rượu, bia gồm: (1) Tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú về tác hại của rượu, bia đối với thai nhi, trẻ em; cho người bị ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia khi sử dụng dịch vụ tại cơ sở y tế, cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình; (2) Can thiệp, hỗ trợ, áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc, bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác để không bị ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia; (3) Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật.

Các biện pháp nêu trên phải được lồng ghép trong chương trình, kế hoạch, hoạt động có liên quan đến trẻ em, phụ nữ và các đối tượng yếu thế khác. Cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân thực hiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 25 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.

6. Điều kiện bảo đảm cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia (Chương V)

6.1. Kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 26)

Kinh phí để thực hiện là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả đối với mọi hoạt động nói chung và hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia nói riêng, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Ngân sách nhà nước; (2) Kinh phí hợp pháp khác.

Kinh phí cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia được phân bổ, quản lý, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và theo quy định của pháp luật. Luật giao Chính phủ quy định nội dung chi, mức chi cho hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia được ngân sách nhà nước bảo đảm.

6.2. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 27)

Người làm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ như sau: (1) Người làm công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với trách nhiệm được giao; (2) Nhân viên y tế cơ sở, cộng tác viên thực hiện phòng, chống tác hại của rượu, bia được ưu tiên tham gia các hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến phòng, chống tác hại của rượu, bia.

6.3. Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 28)

Vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia bị xử lý như sau: (1) Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; (2) Cơ quan, người có thẩm quyền được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện, xử lý kịp thời hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (3) Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong phòng, chống tác hại của rượu, bia.

7. Quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tác hại của rượu, bia

7.1. Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 29)

Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia gồm: (1) Ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (3) Đào tạo, bồi dưỡng về công tác phòng, chống tác hại của rượu, bia; (4) Thống kê, sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo việc thực hiện phòng, chống tác hại của rượu, bia; (5) Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (6) Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống tác hại của rượu, bia.

7.2. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 30)

Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia như sau: (1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (2) Bộ Y tế là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (3) Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia; (4) Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống tác hại của rượu, bia tại địa phương.

7.3. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội (Điều 31)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm giáo dục, tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; đưa nội dung phòng, chống tác hại của rượu, bia vào nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức; tham gia ý kiến xây dựng pháp luật, thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực phòng, chống tác hại của rượu, bia theo quy định của pháp luật.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm sau đây: (1) Thực hiện trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019; (2) Tuyên truyền, giáo dục trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên không uống rượu, bia; (3) Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em, học sinh, sinh viên, thanh niên bị ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia; (4) Lồng ghép hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia trong công tác đoàn, đội.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có trách nhiệm sau đây: (1) Thực hiện trách nhiệm quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019; (2) Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo vệ và hỗ trợ phụ nữ, trẻ em bị ảnh hưởng bởi tác hại của rượu, bia; (3) Lồng ghép hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia trong công tác hội.

Tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tham gia giáo dục, tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; tham gia ý kiến xây dựng pháp luật về phòng, chống tác hại của rượu, bia; cung cấp thông tin về phòng, chống tác hại của rượu, bia theo quy định của pháp luật.

7.4. Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia (Điều 32)

Trách nhiệm của cơ sở kinh doanh rượu, bia trong phòng, chống tác hại của rượu, bia như sau: (1) Tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh rượu, bia; về quảng cáo, khuyến mại, tài trợ, an toàn thực phẩm, chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, ghi nhãn hàng hóa đối với rượu, bia. Thông tin về sản phẩm rượu, bia phải bảo đảm chính xác, khoa học; (2) Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về hoạt động kinh doanh của cơ sở theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; (3) Không sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh, quảng cáo rượu, bia; (4) Thu hồi và xử lý rượu, bia không bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm do cơ sở mình sản xuất, mua bán theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; (5) Cơ sở bán rượu, bia phải niêm yết thông báo không bán rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi. Trường hợp nghi ngờ về độ tuổi của người mua rượu, bia thì người bán có quyền yêu cầu người mua xuất trình giấy tờ chứng minh; (6) Cơ sở bán rượu, bia tiêu dùng tại chỗ nhắc nhở và có hình thức thông tin phù hợp đối với khách hàng về việc không điều khiển phương tiện giao thông, hỗ trợ khách hàng thuê, sử dụng phương tiện giao thông công cộng sau khi uống rượu, bia; (7) Kể từ ngày Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 có hiệu lực, không được mở mới điểm bán rượu, bia để tiêu dùng tại chỗ trong bán kính 100 m tính từ khuôn viên của cơ sở y tế, nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông.

7.5. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 33)

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia; tổ chức thực hiện nghiêm quy định không uống rượu, bia trong thời gian làm việc, tại nơi làm việc của cơ quan, tổ chức.

Người đứng đầu tổ dân phố, khu phố, khối phố, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, tổ chức tại cơ sở, cộng đồng tham gia các hoạt động phòng, chống tác hại của rượu, bia quy định tại Điều 24 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019.

Người đứng đầu, người quản lý, điều hành địa điểm quy định tại Điều 10 và Điều 19 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 có trách nhiệm sau đây: (1) Nhắc nhở, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm quy định tại Điều 10 và Điều 19 của Luật này; từ chối cung cấp dịch vụ nếu người vi phạm tiếp tục vi phạm sau khi đã được nhắc nhở, yêu cầu; (2) Tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc mọi người thực hiện đúng quy định về không được uống, không được bán rượu, bia tại địa điểm thuộc, quyền quản lý, điều hành.

7.6. Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống tác hại của rượu, bia (Điều 34)

Trách nhiệm của gia đình trong phòng, chống tác hại của rượu, bia như sau: (1) Giáo dục, giám sát, nhắc nhở thành viên chưa đủ 18 tuổi không uống rượu, bia, các thành viên khác trong gia đình hạn chế uống rượu, bia; động viên, giúp đỡ người nghiện rượu, bia trong gia đình cai nghiện rượu, bia; (2) Hướng dẫn các thành viên trong gia đình kỹ năng từ chối uống rượu, bia; kỹ năng nhận biết, ứng xử, xử trí khi gặp người say rượu, bia, người nghiện rượu, bia và thực hiện các biện pháp phòng, chống tác hại của rượu, bia; (3) Tham gia với các cơ quan, tổ chức và cộng đồng thực hiện phòng, chống tác hại của rượu, bia.

8. Điều khoản thi hành

8.1. Sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác (Điều 35)

Để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật liên quan đến phòng, chống tác hại của rượu, bia, Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 sửa đổi, bổ sung quy định của một số luật khác như sau:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau:

“8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13, Luật số 97/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14 như sau:

“8. Thuyền viên, người lái phương tiện đang làm việc trên phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn hoặc có các chất kích thích khác mà luật cấm sử dụng.”.

- Thay thế một số cụm từ tại một số điều của Luật Thương mại số 36/2005/QH11 đã dược sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 05/2017/QH14 như sau:

+ Thay thế cụm từ “rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên” bằng cụm từ “rượu, bia có độ cồn từ 15 độ trở lên” tại khoản 4 Điều 100;

+ Thay thế cụm từ “rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên” bằng cụm từ “rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên” tại khoản 4 Điều 109.

8.2. Hiệu lực thi hành

Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020. Kể từ ngày Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 có hiệu lực đến ngày 01/01/2022, việc cấp phép sản xuất rượu thủ công quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và việc đăng ký sản xuất rượu thủ công quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 không phải nộp phí, lệ phí./.